Luận bàn: Âm dương ngũ hành trong thư pháp

Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc

Chẳng phải tự nhiên mà người xưa đã đánh giá các tác phẩm thư pháp được xếp đứng đầu trong các thú chơi tao nhã. Không chỉ có tính nghệ thuật cao mà các bức thư pháp còn ẩn chưa một nội hàm mạnh mẽ, nhất là được các nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Phương Đông thực hiện.

   

Thư pháp chữ Hán: VĂN DĨ HÓA CHI. TPG: Nhất Đăng Sinh

Trong triết học Phương Đông luôn lấy âm dương – ngũ hành và bát quái làm cơ sở lý luận. Có câu: vật có lý chưa chắc đã tồn tại, nhưng vật tồn tại ắt hẳn có lý. Một lý luận đã tồn tại cả ngàn năm ắt hẳn có lý rồi.

Người xưa cho rằng vũ trụ được tạo thành bởi sự kết hợp giữa âm và dương, do âm dương phát triển không cân bằng mà dẫn tới vũ trụ không ngừng vận động. Một khi âm dương trong vũ trụ có xu hướng cân bằng thì vũ trụ sẽ trở thành trạng thái tĩnh, mọi vật cũng sẽ không tồn tại.

Vì vậy, vũ trụ chỉ có nằm ở trạng thái không cân bằng mới có thể tạo ra thế giới đầy màu sắc, sản sinh ra những cuộc đời khác nhau, vô cùng phong phú.

Sinh sinh, diệt diệt… vô thủy vô chung

Người xưa cũng cho rằng vật chất được tồn tại quy về năm loại hình thức là Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ gọi là Ngũ Hành.

Thư pháp chữ Hán: TÚY NHÂN. Thái Hòa Bùi Đình Ngọc

Và vũ trụ lấy hình thức ngũ hành sinh khắc mà tồn tại, tất cả mọi sự vật đều là kết quả của sự vận động trong vũ trụ. Vì vậy tất cả vật thể đều mang thuộc tính của ngũ hành, đều chịu ảnh hưởng của ngũ hành tương tác, đối ứng lẫn nhau.

Về bát quái, chúng ta đã nói, đã nghiên cứu nhiều, nhưng đó chỉ là ý nghĩa cơ bản nhất. Ý nghĩa ẩn tàng trong bát quái vô cùng nhiều, các nhà nghiên cứu không những có thể lấy đó làm nguồn thông tin để luận đoán sự việc, nhà cửa, đất đai, mà còn có thể dùng để làm căn cứ trích xuất thông tin khi dùng chữ (thư pháp), tranh vẽ, hoặc các vật phẩm phong thủy để kích hoạt hoặc hóa giải.

Khi dùng chữ viết (thư pháp) để kích hoạt hoặc hóa giải, chúng ta biết rằng: Trên trái đất có rất nhiều dân tộc, có đủ loại ngôn ngữ và chữ viết. Khi biểu đạt một vật nào đó, do sự khác biệt về địa lý và dân tộc mà cách gọi và cách viết ở mỗi nơi cũng khác nhau, nhưng trong tiềm thức đều là chỉ một vật.

Ví dụ như “thủy”, người Trung Quốc phát âm là “shui”, người Anh phát âm là “water”, người Nhật Bản phát âm là “mizu”, và người Việt Nam ta gọi là “nước”, định danh khác nhau, cách gọi tuy khác nhau nhưng đều chỉ cùng một vật thể.

Mặc dù không thống nhất, nhưng phát âm và chữ viết của mỗi dân tộc cũng không xuất hiện ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu của sự phát triển đến một giai đoạn nhất định.

Chữ viết và ngôn ngữ chẳng qua chỉ là một hình thức tồn tại biểu hiện của năng lượng vũ trụ, để truyền tải, lưu giữ thông tin và đương nhiên tranh ảnh và hình vẽ cũng là như vậy.

Từ hàng ngàn năm trước, người xưa đã biết sử dụng chữ viết và hình vẽ để trị bệnh. Phong thủy và Kinh dịch cũng dùng phương pháp này để xu cát tị hung. Khi hóa giải, kích hoạt chính là dựa trên nguyên lý này.

Bùi Thái Hòa biểu diễn Thư pháp tại UNESCO Hà Nội. Thư pháp từ tâm, nét cong nét thẳng phác hoạ người dưng, người dưng… (THƯ PHÁP NDH)

Phong thủy và Kinh dịch khi hóa giải, kích hoạt thường dùng: bổ sung Thủy, có thể dùng hình vẽ con sông, thác nước, ao hồ, chữ nước, chữ thủy (thư dịch), hoặc phẩm vật bằng kim (để sinh thủy) heo (Hợi), cá tôm (động vật trong nước), con chuột (Tý), hay tĩnh vật như: ly rượu, bình tưới, dụng cụ đánh cá, bình nước uống…

Tương tự như vậy: khi bổ sung Mộc, có thể dùng hình vẽ rừng cây, cây ăn quả, thảm cỏ, chữ Mộc, chữ Cây (TD); khi bổ sung thổ, có thể dùng hình vẽ núi, ruộng đất, chữ Thổ…; khi là Kim hưu tù, có thể dùng hình vẽ máy móc, tảng đá…; khi Hỏa hưu tù, có thể dùng hình vẽ mặt trời, lửa, đèn… Đặc biệt là khi hóa giải phong thủy nơi ở, có thể cân nhắc thần sát, vượng suy dụng thần của từng khu vực cụ thể ra sao, mà dùng tranh dán tường, chữ viết, vật phẩm phong thủy để tiến hành điều chỉnh.

Chữ viết cũng như hình vẽ, bên trong đều tàng trữ thông tin của tự nhiên, vũ trụ, có nội hàm, nên dùng chữ tượng hình như chữ Nho (chữ Hán), chữ Phạn, chữ Thư dịch để hóa giải thì hiệu quả tốt hơn. Đôi khi có thể sử dụng đồng thời cả hình vẽ và chữ viết hoặc cả các vật phẩm Phong thủy để nâng cao hiệu quả hóa giải.

THƯ PHÁP – THƯ THUẬT – THƯ DỊCH

Nói về chữ Nho (chữ Hán) hoặc chữ Phạn nhiều người đã biết. Còn chữ Thư dịch (còn gọi là Thư pháp Dịch tự) thì có thể còn có người chưa biết, xin giải thích như sau:

Thư pháp: Là bộ môn viết chữ, nâng hình tượng ban đầu lên một pháp môn mang tính nghệ thuật đỉnh cao: “Nhất chữ, nhì tranh…”, dùng chữ tượng hình.

Thư thuật: Là bộ môn viết chữ đẹp, thường là các chữ hệ la-tinh.

Thư dịch: Là một loại chữ viết xuất phát từ Kinh dịch. Kinh dịch thể hiện vạn vật nên Thư dịch cũng thể hiện vạn vật. Thư dịch cũng là một dạng tượng hình, bao gồm Hình và Thần vạn vật. Thư dịch là sự kết hợp hài hòa giữa Hình và chữ Ký âm.

VĂN (Thư dịch) Thái Hòa Bùi Đình Ngọc

Thư dịch gồm Đại dịch – Dịch tự: Quân, và Tiểu dịch: Thần. Tiểu dịch lại gồm: Dịch trường và Kim phượng. Tiểu dịch có bộ thủ gần như chữ Hán. Thư dịch là nghệ thuật biểu hiện thần thức của cá nhân thông qua các Dịch tự biểu hiện một pháp môn nhất định.

Giá trị của thư dịch:

  1. Chuyển tải ngôn ngữ (tác phẩm nghệ thuật)
  2. Trấn trạch: Tứ đại tự
  3. Tiêu tai (Tị hung)
  4. Tăng phúc (Xu cát)
  5. Thức thần (Diệt vô minh)

Vài nét chấm phá về Thư pháp với con mắt của người nghiên cứu Kinh dịch và Phong thủy.

Hà Nội, 06 – 11 – 2024

Thái Hoà Bùi Đình Ngọc
Viện trưởng Viện nghiên cứu ứng dụng kiến trúc phong thuỷ