Đinh Công Vỹ
(TS. Lịch sử)
“Tả Ao” không hẳn là tên thật của bậc Thánh Địa lý nước ta. Đó là tên làng quê, nơi sinh ra bậc Thánh, tức là làng Tả Ao, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Sách Liệt tiên truyện lại nói về quê hương của Thánh ở làng Ái Thôn, xã Đặng Điền, huyện Chân Phúc, cũng thuộc Hà Tĩnh.
Tên thật của vị Thánh này trong sử sách cũng khó khẳng định. Bách khoa toàn thư Việt Nam ghi tên ông là Tả Ao; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi: Tả Ao tên thật là Hoàng Chiêm hoặc Hoàng Chỉ. Theo dân gian, người cùng quê thường gọi ông là Vũ Đức Huyền. Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính lại nêu: Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền…
Không những tên thật, quê hương không thống nhất mà đến năm sinh và thời đại Tả Ao sống cũng vậy. Nhưng tài đức và cuộc đời của ông được lưu truyền trong dân gian đều được đề cao.
Do quá nổi tiếng, đi quá nhiều nơi, truyền thuyết quá phong phú, dẫn đến nhiều chi tiết phức tạp, khiến không những tên thật, nơi sinh sống mà cả thời gian Tả Ao sống cũng có nhiều cách ghi nhận khác nhau. Vì vậy, rất khó xác định chính xác niên đại ông sinh sống và hoạt động trong một khoảng thời gian thống nhất. Có lẽ cần chấp nhận một khoảng dung sai nhất định khi nghiên cứu.
Phải chăng năm 1442, thời điểm xảy ra thảm án Lệ Chi Viên với việc vua Lê Thái Tông qua đời đột ngột và vua Lê Nhân Tông lên ngôi, cũng chính là năm Tả Ao ra đời? Phải chăng ông đã sống và để lại dấu ấn từ thời điểm ấy đến cuối đời Lê Thuần Tông, đầu đời Lê Ý Tông, tương ứng với niên đại Trung Quốc từ đời Minh (Anh Tông) đến đời Thanh Cao Tông (Càn Long)?
Về không gian hoạt động, Tả Ao có thể đã sinh sống, học tập và hành nghề ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, lấy Nghệ Tĩnh làm quê gốc, đồng thời nhiều lần sang Trung Hoa học tập.
Trong bối cảnh lịch sử ấy, khi theo học các thầy địa lý người Trung Quốc, hẳn Tả Ao không thể không biết đến, tiếp thu hoặc chịu ảnh hưởng từ những nhà địa lý nổi tiếng của Trung Quốc, cả những người sống trước và cùng thời với ông, đặc biệt là từ thời Minh, Thanh trở về trước.
Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726–1784), tuy sinh sau Tả Ao, vẫn biết khá rõ về các trước tác và danh gia địa lý Trung Hoa. Vì vậy, có thể suy đoán rằng thầy và trò Tả Ao, vốn sống gần với thời các trước tác ấy hơn, càng có điều kiện thuận lợi để tiếp cận và tiếp thu tri thức phong thủy của Trung Hoa từ các đời Minh, Thanh và trước đó.
Đặc biệt, các nhà địa lý như Cao Biền hay Hoàng Phúc là những nhân vật mà người Việt, nhất là Lê Quý Đôn cũng như thầy trò Tả Ao, hẳn đều biết đến. Đây là những nhà địa lý Trung Quốc từng sang Việt Nam làm quan cai trị và để lại ảnh hưởng sâu sắc đối với lịch sử cũng như truyền thống phong thủy nước ta.
Trong Vân đài loại ngữ, mục Địa lý, điều 43, Lê Quý Đôn viết: “Ở nước Nam ta tương truyền rằng: Vua Đường Ý Tông nghe nói ở An Nam có vượng khí, bèn sai Tiết độ sứ là Cao Biền sang dùng thuật yểm.” Sau đó, Lê Quý Đôn nhận xét: “Điều đó chưa hẳn là đồn sai.”
Cao Biền là người U Châu (Bắc Kinh ngày nay), cháu nội của danh tướng Cao Sùng Văn đời Đường. Ông là người đầu tiên trở thành Tiết độ sứ của trị sở Tĩnh Hải quân trong lịch sử Việt Nam và là danh tướng khi đánh bại các cuộc xâm nhập của Nam Chiếu vào nước ta.
Điều nổi bật nhất gắn với tên tuổi Cao Biền là việc xây dựng thành Đại La. Thành này vốn đã được các quan cai trị Trung Quốc đắp từ trước, nhưng chỉ đến khi Cao Biền tiến hành xây dựng quy mô lớn thì mới trở nên bề thế. Theo truyền thuyết, thành được xây đi xây lại nhiều lần vẫn bị sụt lở do ảnh hưởng của sông Tô Lịch. Cao Biền phải dùng thuật trấn yểm để giữ đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này.
Tháng 9 năm 2001, một số di vật được phát hiện trong lòng sông Tô Lịch đã được một số nhà nghiên cứu cho là dấu tích của những bùa yểm do Cao Biền để lại.
Ở Việt Nam đến nay vẫn còn rất nhiều truyền thuyết về việc Cao Biền trấn yểm các long mạch. Huống hồ vào thời của thầy trò Tả Ao, khi khoảng cách lịch sử với Cao Biền còn gần hơn, những câu chuyện ấy hẳn càng được lưu truyền rộng rãi.
Nhiều tài liệu còn ghi rằng khi cử Cao Biền sang nước ta, vua Đường Ý Tông đã bí mật căn dặn: “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử. Ngươi tinh thông địa lý, nên hết sức trấn yểm và vẽ hình các cuộc đất ấy đem về cho trẫm xem.”
Vâng lệnh vua Đường, Cao Biền đi khắp núi rừng, sông biển nước ta để khảo sát những nơi có địa thế đẹp, linh khí hội tụ và tìm cách trấn yểm.
Theo truyền thuyết, ông cho đào những giếng rất sâu, lập đàn cúng tế để dụ thần bản địa xuất hiện rồi dùng kiếm báu chém đầu; sau đó đào hào, chôn kim khí nhằm triệt phá long mạch.
Có lần Cao Biền lên núi Tản Viên định thực hiện việc trấn yểm nhưng thất bại. Tương truyền, ông còn bị một đạo sĩ người Việt cùng dân vùng Ninh Bình bắn trọng thương tại núi Cánh Diều. Sau đó, ông tiếp tục không thành công trong việc trấn yểm thần Long Đỗ, thần Bạch Mã và nhiều linh địa khác.
Đặc biệt là vùng Cổ Pháp – nơi được cho là sẽ sinh ra bậc đế vương của nước Nam. Sau nhiều ngày khảo sát, Cao Biền cùng các thầy địa lý Trung Quốc đã tìm cách cắt đứt long mạch bằng việc đục dòng sông Điềm và trấn yểm tại mười chín vị trí thuộc làng Phù Chẩn.
Theo các truyền thuyết dân gian, tất cả những âm mưu ấy đều bị các vị thần linh và những nhà địa lý Việt Nam hóa giải. Bản thân Cao Biền cũng phải rời khỏi nước ta trong thất bại.
Sau khi trở về Trung Quốc, ông tiếp tục gặp nhiều biến cố. Năm 887, trong cuộc nổi dậy tại Hoài Nam, Cao Biền cùng cả gia quyến bị tướng Tần Ngạn bắt giam rồi sát hại.
Trong những truyền thuyết về sự thất bại của Cao Biền còn có sự xuất hiện của Tả Ao. Dân gian kể rằng Tả Ao đã phá nhiều nơi trấn yểm mà Cao Biền để lại tại các vùng như núi Hàm Rồng, núi Tản Viên…
Thậm chí còn có nhiều giai thoại kể về việc Tả Ao và Cao Biền thi thố tài năng địa lý. Xét về mặt lịch sử, điều này khó có thể xảy ra vì hai người sống cách nhau nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa Tả Ao hóa giải những dấu tích trấn yểm do Cao Biền để lại và đối đầu với ảnh hưởng của ông trong truyền thống phong thủy thì cách lý giải này có phần hợp lý hơn.
Đặc biệt, hiện nay tại Việt Nam cũng như ở Pháp vẫn còn lưu giữ một số tác phẩm được cho là của Cao Biền hoặc mang tên ông, như An Nam cửu long kinh (được cho là sách thác danh), Cao Biền bị khảo, Cao Biền địa cảo tập, Địa lý đồ chí…
Những tác phẩm địa lý liên quan đến Việt Nam này được cho là đã được Hoàng Phúc sưu tập hoặc mang sang nước ta trong thời kỳ nhà Minh cai trị. Vì vậy, một nhà địa lý lỗi lạc như Tả Ao rất khó có thể không biết đến những tư liệu ấy.
Những tác phẩm địa lý của Cao Biền có quan hệ tới Việt Nam được tìm lại và truyền về nước ta còn gắn với tên tuổi Hoàng Phúc, một vị quan nhà Minh đồng thời cũng là một nhà địa lý có ảnh hưởng đáng kể đối với Việt Nam. Với trình độ của mình, Tả Ao khó có thể không biết đến nhân vật này.
Theo Minh sử, Hoàng Phúc từng bị sung vào quân đội làm sự quan, sau được phục chức và được cử sang Đại Việt. Ông ở nước ta từ năm 1406 đến năm 1424 mới được triệu hồi về triều đình.
Năm 1427, khi tình hình quân Minh ở Đại Việt trở nên nguy cấp, vua Minh Tuyên Tông lại triệu Hoàng Phúc và tiếp tục cử ông theo đạo quân cứu viện sang nước ta.
Như vậy, Hoàng Phúc sang Đại Việt hai lần:
- Lần thứ nhất, ở liên tục khoảng 18 năm (1406–1424).
- Lần thứ hai, với tư cách trợ lý cho chủ tướng Liễu Thăng trong cuộc chiến chống quân Lam Sơn.
Xuất thân là Tiến sĩ, giữ chức Thượng thư, phụ trách công việc Bố chính và Án sát, Hoàng Phúc không chỉ đảm nhiệm các công việc hành chính mà còn thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính cơ mật, trong đó có việc khảo sát địa hình và triệt yểm các vùng đất được cho là có long mạch phát vương trên lãnh thổ Đại Việt.
Trong số những nhà địa lý nổi tiếng của nhà Minh, gần với thời đại của Tả Ao, có thể kể đến Lưu Bá Ôn và Hoàng Phúc. Đây đều là những nhân vật mà Tả Ao rất có khả năng đã biết đến.
Lưu Bá Ôn là công thần khai quốc của nhà Minh, nổi tiếng tinh thông phong thủy và thuật trấn yểm, được Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đặc biệt tín nhiệm. Ông cũng được xem là một trong những người góp phần hình thành tác phẩm Địa ký lược, một trước tác từng lưu hành tại Việt Nam và hiện vẫn còn được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tuy nhiên, người có ảnh hưởng trực tiếp hơn đối với Việt Nam vẫn là Hoàng Phúc, bởi ông từng nhiều năm sinh sống và hoạt động ngay trên đất nước ta. Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, một nhân vật tiêu biểu của thời Lê sơ, hẳn cũng là người mà thầy trò Tả Ao không thể không biết đến.
Sử liệu cho biết, sau khi tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh lên ải Nam Quan, Nguyễn Trãi được Hoàng Phúc can thiệp nên không bị quân Minh bắt giải sang Trung Quốc mà chỉ bị quản thúc tại thành Đông Quan trong một thời gian (1407–1416).
Về sau, trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân của Lê Lợi bắt được Hoàng Phúc cùng nhiều tài liệu địa lý do ông mang theo. Có chuyện kể rằng Nguyễn Trãi biết Hoàng Phúc rất giỏi địa lý nên đã mời ông đến xem cuộc đất tại quê mình ở Nhị Khê.
Sau khi quan sát, Hoàng Phúc nói: “Số tôi phúc dày nên dù gặp đại nạn cũng nhiều lắm chỉ trong khoảng một trăm ngày; còn ông thì sẽ mang họa nhiều đời.” Theo truyền thuyết, trước đó khi còn làm quan nhà Minh, Hoàng Phúc từng khảo sát vùng Nhị Khê và ghi lại câu: “Nhị Khê mạch đoản, họa thảm tru di.”
Nhiều người cho rằng lời dự báo này đã ứng nghiệm với thảm án Lệ Chi Viên năm 1442 khiến Nguyễn Trãi cùng gia tộc bị tru di tam tộc. Cũng có giả thuyết cho rằng năm 1442 chính là năm Tả Ao ra đời.
Tương truyền, khi sang Đại Việt, Hoàng Phúc mang theo cuốn địa lý của Cao Biền làm cơ sở khảo sát địa hình và nghiên cứu các vùng đất trọng yếu nhằm phục vụ việc cai trị cũng như quân sự. Nếu điều đó là đúng, thì rất có thể Hoàng Phúc đã đến nhiều vùng linh địa mà Cao Biền từng ghi chép. Và cũng chính những nơi ấy, về sau, trở thành địa bàn khảo sát của Tả Ao.
Do vậy, biết đến Cao Biền, biết đến Hoàng Phúc, lại nhiều năm khảo sát khắp Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Tả Ao gần như không thể bỏ qua những địa danh nổi tiếng ấy. Đặc biệt là các vùng Tam Đảo và Ba Vì, hai chủ sơn tiêu biểu trong hệ thống núi thiêng của Việt Nam, được xem là nơi phát tích của nền văn minh Hùng Vương cũng như gắn với tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh, vị đứng đầu trong Tứ bất tử của dân tộc.
Chính vì vậy, ba nhà địa lý nổi tiếng là Cao Biền, Hoàng Phúc và Tả Ao, dù sống ở những thời đại khác nhau, đều được cho là đã từng khảo sát khu vực này.
Không phải ngẫu nhiên mà tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ cuốn Địa lý đồ chí (còn gọi là Địa lý cảo, Địa lý Hoàng Phúc cảo), trong đó người đời Lê (niên hiệu Bảo Thái) đã ghép ba tác giả Cao Biền – Hoàng Phúc – Tả Ao vào cùng một quyển.
Các tác giả đều hướng đến việc khảo sát những kiểu đất quý, những nơi có huyệt kết. Trên cơ sở kế thừa và tổng hợp tri thức của Cao Biền và Hoàng Phúc, Tả Ao đã hệ thống thành 28 kiểu đất quý trong quá trình khảo sát vùng Tứ trấn quanh Thăng Long, gồm các đạo Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam và Hải Dương.
Đây là bốn vùng địa lý trọng yếu, tạo nên nền móng vững chắc của kinh thành Thăng Long, đồng thời cũng là cơ sở để các nhà địa lý tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hệ thống chủ sơn và long mạch của nước Việt.
Ba nhà địa lý lừng danh, tuy không cùng thời đại, nhưng lại có sự gặp gỡ trong học thuật. Họ vừa là những người kế thừa tri thức của nhau, vừa đại diện cho những lập trường chính trị và văn hóa khác nhau, tạo nên sự đối thoại và đối lập trong lịch sử địa lý phong thủy Việt Nam.
Có thể thấy rõ điều đó qua khu vực Tam Đảo. Tam Đảo nằm gần Đền Hùng, nơi thờ Quốc Tổ của dân tộc Việt Nam. Dãy núi gồm ba ngọn chính vươn cao, gần như đối xứng với ba đỉnh núi Ba Vì ở phía bên kia sông Hồng, hợp cùng Thăng Long tạo thành một thế tam giác đặc biệt. Trong ba đỉnh núi, Tam Đảo có độ cao lớn hơn Ba Vì khoảng 300 m. Ngọn cao nhất là Phù Nghĩa; ngọn giữa cao vút gọi là Kim Thiên hay Thạch Bàn; ngọn phía tả là Thiên Thị.
Theo các tài liệu được dẫn, trên đỉnh núi có chùa Đồng được đúc hoàn toàn bằng đồng từ rất sớm; ở sườn núi có chùa Đá, khắc ba chữ “Địa Ngục tự”. Ở độ cao khoảng ba dặm còn có một khoảng đất bằng phẳng với ba nền đất dài. Tại đây có một tấm bia lớn khắc bốn chữ “La Thành bát loạn”, bên cạnh có dòng chữ nhỏ ghi: “Minh Thượng thư Hoàng Phúc cẩn đề.”
Nhắc đến La Thành là nhắc đến Cao Biền. Điều đáng chú ý là cả Cao Biền và Hoàng Phúc – hai nhà địa lý nổi tiếng của Trung Quốc, tuy cách nhau gần năm thế kỷ – đều được cho là đã để lại dấu tích tại Tam Đảo. Với một nhà địa lý thường xuyên khảo sát thực địa như Tả Ao, rất khó có khả năng ông chưa từng đặt chân đến vùng núi này.
Theo quan điểm của tác giả, Tam Đảo là nơi hội tụ long mạch đặc biệt và cũng là một trong những kiểu đất quý được hệ thống hóa trong các trước tác của Tả Ao.
Tương truyền, những tài liệu địa lý mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi thu được từ Hoàng Phúc có thể chính là hai bản tấu của Cao Biền dâng lên triều đình Trung Hoa, trong đó ghi chép khá chi tiết các địa danh có cuộc đất kết phát.
Nhiều đoạn mô tả địa hình trong những tài liệu này được cho là có nội dung tương đồng với các câu phú trong sách địa lý của Tả Ao, tuy cách diễn đạt có khác nhau.
Ví dụ, câu phú về Quan Quỷ trong sách địa lý Tả Ao viết: “Địa hữu Quan Quỷ sinh nhân trác Việt chi tai.” Trong khi sách của Cao Biền lại ghi: “Thần đồng tiên lập, quỷ sứ hậu tùy.”
Từ đó, tác giả cho rằng việc hiểu rõ các câu phú địa lý của Tả Ao có thể góp phần giải mã và khai thác tốt hơn những tác phẩm địa lý mang tên Cao Biền. Qua đó, có thể thấy giữa các trước tác của Tả Ao và hệ thống tư liệu địa lý cổ của Trung Hoa tồn tại nhiều điểm tương thông, phản ánh quá trình kế thừa, chọn lọc và phát triển của học thuật địa lý phong thủy ở Việt Nam.
Nói rõ hơn, giữa các trước tác của Tả Ao và hệ thống địa lý cổ Trung Hoa vừa có sự tương thông, vừa có sự kế thừa nhưng cũng không thiếu sự đối thoại và đấu tranh trong tư tưởng học thuật.
Ngay cả với người thầy địa lý Trung Quốc đã truyền dạy cho Tả Ao cũng vậy. Câu chuyện được ghi trong Nam Hải dị nhân là một ví dụ tiêu biểu.
Theo sách chép, trước khi chia tay, người thầy dặn Tả Ao: “Về nước Nam, nhớ đừng lên núi Hồng Lĩnh.” Tuy nhiên, trong một lần đi qua Hồng Lĩnh, vì tò mò trước lời dặn của thầy, Tả Ao vẫn quyết định lên núi khảo sát. Tại đây, ông phát hiện một cuộc đất được gọi là “Cửu Long tranh châu”, tức huyệt đất của bậc đế vương. Tương truyền, ông đã cải táng mộ cha vào huyệt đất ấy. Sau đó, gia đình sinh được một người con trai khôi ngô, tuấn tú.
Ở Trung Hoa, các nhà thiên văn quan sát thấy nhiều vì tinh tú hội tụ về phương Nam, cho rằng đó là điềm báo xuất hiện một bậc minh quân. Tin này được tâu lên hoàng đế nhà Minh. Nhà vua tra xét và biết người học trò năm xưa của vị thầy địa lý đã tìm được huyệt đất quý tại nước Nam, liền buộc người thầy phải sai con trai sang Đại Việt để tìm cách trấn yểm.
Theo truyền thuyết, người con của vị thầy đã dùng mưu kế lừa bắt con trai Tả Ao đưa về phương Bắc. Khi Tả Ao phát hiện thì mọi việc đã muộn. Câu chuyện này, dù mang màu sắc truyền kỳ, vẫn phản ánh quan niệm phổ biến trong dân gian về sự tranh đấu giữa các nhà địa lý Việt Nam và Trung Hoa quanh vấn đề long mạch và vận nước.
Chính trong hoàn cảnh lịch sử, không gian văn hóa và môi trường học thuật ấy, Tả Ao đã tiếp thu tinh hoa của địa lý phong thủy Trung Hoa, đồng thời chọn lọc, chắt lọc và phát triển thành hệ thống lý luận phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Ông không chỉ là người học tập, mà còn là người biết “đãi cát tìm vàng”, kế thừa có chọn lọc để hình thành nên một trường phái địa lý mang đậm bản sắc Việt Nam.
Các trước tác của Tả Ao
Một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Tả Ao là Địa lý quý cơ chân tuyền, do ông biên soạn với tên hiệu Phủ Hưng, hiện còn lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tác phẩm gồm hai chương. Chương đầu có 17 thiên, phần lớn dẫn giải từ các sách phong thủy của nhiều tác giả trước đó, thể hiện tinh thần tổng hợp và hệ thống hóa tri thức của người biên soạn. Chương sau gồm 13 thiên, là những nội dung do chính Tả Ao biên soạn. Các phần trích dẫn cũng như những luận điểm của tác giả đều được trình bày dưới dạng luận, ca, với văn phong đậm chất Việt Nam.
Điều đó cho thấy những tinh hoa của địa lý phong thủy Việt Nam và Trung Hoa đã được hội tụ trong tác phẩm này. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc, Tả Ao đã tổng kết và phổ biến học thuật theo cách diễn đạt gần gũi với người Việt. Cùng với Địa lý quý cơ chân tuyền, tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ nhiều tác phẩm khác của Tả Ao.
Hoàng Chiêm Địa lý cảo (còn gọi là Lê triều Hoàng Chiêm Địa lý luận)
Tác phẩm gồm 126 hình vẽ mô tả các kiểu đất quý tại nhiều địa phương trong cả nước. Mỗi hình đều kèm theo phần chú giải về đặc điểm và giá trị của từng cuộc đất. Tác phẩm bàn về sự biến hóa của Ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ); các kiểu đất tốt; phương pháp tìm hướng, nhận biết long mạch, xác định huyệt; phép sơn thủy; phép minh đường; cùng các phương pháp lựa chọn cuộc đất phục vụ những mục đích như phát tài, hiển đạt, trường thọ, thi cử đỗ đạt và đông con nhiều cháu. Chính những nội dung thiết thực ấy đã đáp ứng nhu cầu tìm hiểu phong thủy của đông đảo người đương thời.
Hoàng Thị song tiên huyền cơ mật giáo
Tác phẩm gồm 26 chương, kèm theo nhiều hình vẽ minh họa, trình bày về phương pháp xem long mạch, định hướng, xác định huyệt đất để an táng mồ mả, đồng thời giới thiệu 13 kiểu đất quý thường được các nhà địa lý Việt Nam và Trung Hoa coi trọng. Cùng với việc khảo sát phong thủy ở nhiều địa phương trên cả nước, xét về chiều rộng, Tả Ao còn đi sâu nghiên cứu phong thủy ngay trên chính quê hương mình.
Tác phẩm Nghệ An đạo Nghi Xuân huyện, Tả Ao xã tiên sinh Địa lý quyết pháp cho thấy điều đó. Qua quá trình khảo sát tại quê hương, Tả Ao đã đúc kết những phép xem phong thủy, tìm long mạch, huyệt đất để đặt mồ mả, làm nhà. Nội dung được diễn đạt bằng nhiều thể thơ như lục bát, song thất, phú…, thể hiện tài năng văn chương của ông.
Cũng với mục đích giúp tri thức phong thủy được phổ biến rộng rãi, không chỉ trong giới trí thức mà còn đến với tầng lớp bình dân, Tả Ao đã sử dụng nhiều hình thức diễn đạt như thơ, phú, văn vần, đồng thời tăng cường sử dụng chữ Nôm bên cạnh chữ Hán.
Tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ nhiều tác phẩm theo hình thức này, tiêu biểu như Tả Ao chân truyền tập, còn gọi là Tả Ao chân truyền Địa lý, gồm nhiều bài viết về địa lý phong thủy.
Ngoài ra còn có Tả Ao di thư chân truyền chính pháp, gồm tám bài trình bày kiến thức địa lý bằng chữ Nôm. Tác phẩm Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng cũng được biên soạn theo lối văn học truyền thống, kết hợp giữa văn xuôi và văn vần, góp phần giúp việc truyền bá tri thức phong thủy trở nên dễ tiếp cận hơn đối với người đọc.
Với hình thức thể hiện hấp dẫn và giàu tính dân tộc, các trước tác của Tả Ao đã chuyển tải một hệ thống kiến thức phong phú, uyên bác, tiêu biểu là tác phẩm Tả Ao chân truyền Địa lý. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu thuộc hệ thống Kham dư của nền địa lý phong thủy Việt Nam.
Theo quan niệm truyền thống của Trung Hoa, cũng là cách hiểu phổ biến tại Việt Nam, “Kham” chỉ thiên đạo, phần cao của trời; “Dư” chỉ địa đạo, phần thấp của đất. Ghép hai khái niệm này lại, Kham dư được hiểu là học thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa trời và đất, giữa thiên văn và địa lý, giữa địa hình cao – thấp với sự vận hành của tự nhiên. Đây cũng là nội dung mà tác giả đã dẫn lại qua những nhận xét của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ.
Qua các trước tác của mình, Tả Ao đã tiếp thu một cách sâu sắc hệ thống Kham dư của Trung Hoa, đồng thời chắt lọc và vận dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên, địa hình và văn hóa Việt Nam. Nội dung các tác phẩm cho thấy ông đã kế thừa những giá trị của văn hóa cổ Trung Hoa, kết hợp với thực tiễn phong phú của Việt Nam để phát triển thành hệ thống lý luận riêng.
Dù trong đó vẫn còn nhiều yếu tố huyền bí, song nếu biết “đãi cát tìm vàng”, người nghiên cứu vẫn có thể nhận thấy những giá trị về địa lý, địa hình và kinh nghiệm khảo sát thực địa được tích lũy qua nhiều thế hệ. Qua toàn bộ nội dung các trước tác cũng như bối cảnh lịch sử hình thành học thuật của Tả Ao, có thể thấy ông đã tiếp thu có chọn lọc những tri thức phong thủy của cả Việt Nam và Trung Hoa, đồng thời phát triển thành một hệ thống mang bản sắc riêng.
Ở phương diện này, Tả Ao xứng đáng được xem là người tổng kết, hay người tập đại thành của nền địa lý phong thủy Việt – Trung. Dù trước Tả Ao, nước ta đã xuất hiện nhiều nhà địa lý lỗi lạc, nhưng ông vẫn được xem là người đầu tiên tiếp thu có hệ thống tinh hoa của địa lý phong thủy Trung Hoa, kết hợp với truyền thống địa lý Việt Nam để xây dựng nên một hệ thống lý luận phù hợp với điều kiện tự nhiên của đất nước.
Ông để lại nhiều trước tác có giá trị, phản ánh kiến thức sâu sắc về phong thủy Dương trạch, phong thủy Âm trạch và mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên. Những tri thức ấy được vận dụng linh hoạt trong suốt quá trình hành nghề và truyền dạy của ông.
Đó cũng là những nguyên nhân quan trọng tạo nên thành công của Tả Ao trong việc giúp dân lựa chọn cuộc đất, xây dựng nhà cửa, an táng mồ mả và ứng dụng địa lý phong thủy vào đời sống.
Chính từ những đóng góp ấy, cùng với hàng loạt truyền thuyết lưu truyền trong dân gian, Tả Ao đã trở thành vị Thánh sư Địa lý bất tử trong tâm thức của nhiều thế hệ người Việt.
Ngày 15 tháng 11 năm 2020.









